Chương 2

Cùng Cô út Trốn Thoát

Tôi hơi bực bội, nhưng nghĩ đến cảnh đang ăn mà dám xị mặt thì sẽ bị ba tát cho một cái, tôi lại nuốt giận xuống.

Mẹ nghe nói tôi vừa ra tiễn cô út, quả nhiên lại bắt đầu “hỏi cung” tôi.

Giống như vô số lần trước, mượn chuyện của cô út để răn dạy tôi, mẹ cười cười hỏi:

“Phán Phán à, con thấy cô út có kỳ lạ không? Sau này con sẽ không giống cô út ấy, bỏ nhà đi mà chẳng nói lời nào, cũng không thèm quan tâm đến ba mẹ đấy chứ?”

Tôi đã quá quen với đáp án tiêu chuẩn, nên vô cảm đáp: “Không đâu ạ.”

Mẹ tiếp tục hỏi: “Thế sau này con có yêu thương em trai không? Có giúp nó mua nhà không? Tiền sính lễ khi cưới có phải cũng sẽ đưa hết cho ba mẹ không?”

Khi đó tôi mới tám tuổi, thậm chí còn chưa hiểu sính lễ nghĩa là gì, vậy mà mẹ tôi lại có thể nói ra những lời như vậy.

Nhưng tôi đương nhiên chỉ có thể đáp: “Dạ phải.”

Mẹ hài lòng xoa đầu tôi:

“Thế mới đúng, mẹ thương con không uổng phí. Đừng có học theo cô út của con, bây giờ ai nhắc đến nó mà chẳng cười nhạo?”

Tôi ăn mà chẳng thấy ngon, lặng lẽ liếc nhìn em trai đang ngồi nhai kẹo ở góc bàn.

Kẹo sô-cô-la, kẹo bơ đậu phộng, kẹo sữa... chắc đều ngon lắm.

Rõ ràng, đó là kẹo cô út cho tôi.

Tôi cảm thấy, cô út không hề đáng ghét như họ nói.

Thậm chí, tôi còn khá thích cô út ấy.

4

Việc cô út quay về đã gây ra một trận xôn xao trong làng. Suốt mấy ngày liền, ai cũng bàn tán về chuyện nhà tôi.

Bà nội là người sĩ diện nhất, nhưng lần này lại chẳng hề sợ hãi, còn nghênh ngang đi khắp làng khoe khoang:

“Ôi, con gái út của tôi quay về đưa cho tôi hai, ba vạn bạc, làm tôi cũng thấy ngại quá. Dù gì cũng là mẹ con ruột thịt, nó vẫn không nỡ đoạn tuyệt với tôi đâu, chẳng cần ai phải lo hộ.”

Ban đầu, dân làng không tin. Thế là bà nội bám lấy họ, thao thao bất tuyệt kể lại chuyện hôm đó, mặt mày hớn hở - tất nhiên là thêm thắt kha khá chi tiết.

Bà còn tuyên bố rằng cô út đã thay đổi, từ nay mỗi tháng sẽ gửi tiền về cho bà dưỡng già.

Bà nội vẽ ra đủ viễn cảnh tươi đẹp, nhưng lại chẳng hề nghĩ xem con gái mình ở ngoài kia sống có khó khăn không, có vui vẻ không.

Thế nhưng, bà chẳng cười được bao lâu.

Bởi vì bà phát hiện ra... cô út lại bặt vô âm tín.

Số điện thoại cô út để lại là giả, không tài nào liên lạc được.

Và cô út cũng chẳng gửi đồng nào về.

Thế là bà nội lại trở về trạng thái chửi rủa quen thuộc:

“Đồ bất hiếu, đồ lòng lang dạ sói, ra đường bị xe đụng chết đi! Để xem có đẻ con không lỗ đít không!!”

Tôi không hiểu, làm mẹ sao có thể căm hận con gái mình đến mức đó?

Nhưng trong những gia đình không hạnh phúc, chuyện này có vẻ chẳng có gì lạ.

Chẳng hạn như nhà tôi.

Thời gian trôi qua, tôi cũng dần lớn hơn, đã đến tuổi thi lên cấp hai.

Ở quê tôi, con gái thường không được coi trọng chuyện học hành, nhưng vì còn trong diện giáo dục bắt buộc nên ba mẹ tôi cũng không phản đối.

Sau đó, tôi thi rất tốt, lọt vào top đầu toàn huyện. Hiệu trưởng nói tôi mà học ở trường cấp hai thị trấn thì hơi phí, khuyên tôi nên lên thành phố học.

Vì chuyện này, thầy còn đích thân đến nhà tôi tận ba lần.

“Dung Phán Phán là nhân tài hiếm có của làng ta trong bao năm qua. Con bé rất thông minh, tiếp thu nhanh. Nếu gia đình chịu đầu tư, sau này chắc chắn sẽ có tương lai sáng lạn.”

Hiệu trưởng hết lời thuyết phục, nhưng ba mẹ tôi lại không hiểu hết những gì thầy nói.

Ba tôi chỉ học đến cấp hai, mẹ thì cấp một, cả đời gắn bó với ruộng đồng, biết đọc sách quan trọng, nhưng lại không thấy con gái học hành có gì quan trọng.

Mẹ vừa tách đậu vừa nói giọng dửng dưng:

“Thầy nói đùa rồi, con gái học hết cấp hai là có thể đi làm rồi, mắc gì phải lên thành phố học cho xa xôi?”

Hiệu trưởng sốt ruột:

“Tôi không khuyên đại đâu. Phán Phán thật sự rất giỏi, cái gì học một lần là nhớ. Nếu con bé được học đại học, sau này kiếm tiền chắc chắn hơn hẳn đi làm công nhân.”

Nghe đến tiền, vẻ mặt ba mẹ tôi mới có chút dao động.

“Kiếm được hơn hẳn là được bao nhiêu?”

Hiệu trưởng giơ năm ngón tay:

“Cháu gái tôi học sư phạm, bây giờ dạy ở trường cấp ba thành phố, lương tháng năm ngàn, chưa kể thưởng và trợ cấp.”

Ba mẹ tôi đồng loạt hít sâu một hơi.

Bởi vì khi ấy, tổng thu nhập của cả gia đình tôi mỗi tháng còn chưa đến hai ngàn.

Hiệu trưởng nói, nếu tôi muốn học, thầy có thể giúp tôi đăng ký thi tuyển vào trường trung học hàng đầu thành phố. Với năng lực của tôi, đậu không phải vấn đề. Nếu điểm cao, còn có thể xin miễn học phí.

Nghe vậy, ba mẹ tôi bắt đầu lung lay, liền đi tìm bà nội bàn bạc ngay trong đêm.

Tôi thao thức cả đêm, lòng vừa háo hức, vừa hồi hộp.

Tôi nghĩ, có lẽ cuộc đời tôi sắp thay đổi.

Nhưng sau cả một đêm bàn bạc, kết luận của họ là - không thể đi.

Lý do là bà nội không cho phép.

So với ba mẹ tôi, tư tưởng của bà còn cổ hủ hơn. Bà nghĩ hiệu trưởng chỉ đang lừa gạt, cho rằng con gái học cao cũng chẳng có tiền đồ gì.

Ban đầu, tôi không nghĩ đây là chuyện không thể xoay chuyển.

Nếu nhà tôi cái gì cũng nghe theo bà nội, vậy tôi chỉ cần cố gắng thuyết phục bà là được.

Cho đến khi tôi vô tình nghe được bà nói với ba mẹ tôi:

“Nó thông minh, vậy chẳng phải thằng Huy còn thông minh hơn sao? Đến lúc đó, hai đứa dồn hết sức lo cho thằng Huy, để nó kiếm tiền thật nhiều là được.”

“Còn con Phán Phán, học xong cấp hai thì đi làm thôi. Làm công nhân may cũng kiếm được mấy ngàn một tháng, cần gì phải học cao, phí tiền.”

Toàn thân tôi lạnh toát.

Thì ra, bà nội đã tính toán như vậy.

Và ba mẹ tôi - đồng ý.

5

Tôi đã khóc, đã làm loạn, thậm chí còn quỳ xuống cầu xin, nhưng vẫn không thể thay đổi suy nghĩ của ba mẹ.

Từ đó, tôi không còn dám nhìn thẳng vào hiệu trưởng nữa. Tôi cảm thấy mình đã phụ lòng thầy.

Ngày đi nhập học ở trường cấp hai thị trấn, lòng tôi nặng trĩu.

Vì cũng trong ngày hôm đó, người bạn xếp thứ hai trong lớp lại được vào trường cấp hai hàng đầu thành phố. Cậu ta học kém hơn tôi, nhưng vẫn có được cơ hội đó.

Mãi về sau, tôi mới hiểu.

Dù cậu ấy không thông minh bằng tôi, nhưng cậu ấy là con trai một, là đứa con duy nhất được cả nhà dốc hết sức để đầu tư.

Còn tôi, từ khoảnh khắc em trai chào đời, tôi đã mất đi đặc quyền ấy.

Mẹ có lẽ cũng cảm thấy có chút áy náy, nên cố an ủi tôi:

“Đừng buồn quá, Phán Phán. Ngày xưa mẹ vì lo cho mấy cậu của con mà còn chẳng được học cấp hai, giờ chẳng phải vẫn sống tốt đó sao?”

“Chị cả con còn khổ hơn, tiểu học chưa học xong đã đi làm rồi, nhưng sau này chẳng phải vẫn lấy được chồng tốt, sinh được mấy đứa con hay sao?”

“Là vàng thì sớm muộn gì cũng sáng thôi. Mẹ tin con có thể vượt qua mọi khó khăn, con lúc nào cũng giỏi nhất!”

Khi đó tôi đã mười hai tuổi rồi, vậy mà mẹ vẫn coi tôi như một đứa trẻ con, cố gắng dỗ dành tôi bằng mấy lời vô nghĩa.

Hy sinh cơ hội học hành vì anh em trai - đó là huy chương của họ sao?

Không những tự hào đeo lên người, mà còn muốn ép tôi cũng phải đeo nó ư?

Nhưng tôi không muốn sống một cuộc đời như thế.

Trường cấp hai tôi học là trường tốt nhất thị trấn, nhưng chất lượng học sinh lại rất tạp nham. Nói trắng ra, dù là trường hàng đầu thị trấn, nhưng so với thành phố, vẫn còn kém xa.

Mỗi ngày đều có người trèo tường ra quán net, hẹn hò trong rừng cây, đánh nhau, thậm chí phạm pháp.

Quạt trần trong lớp học có bốn cái thì ba cái hỏng, mãi mà chẳng ai sửa, mùa hè nóng đến mức muốn ngất.

Ký túc xá thì nhét tận tám người một phòng, trở mình thôi cũng thấy chật chội.

Đôi lúc tôi tự hỏi, có phải mình quá bi quan không?

Có phải tôi đã chìm đắm trong nỗi tiếc nuối và đau khổ khi lỡ mất cơ hội vào trường thành phố, đến mức mất cả động lực tiến về phía trước?

Cho đến một ngày, khi đang mơ màng giữa những suy nghĩ bế tắc, trong đầu tôi bỗng vang lên lời của cô út.

“Phải học hành chăm chỉ, sau này thi vào thành phố lớn, cô út sẽ dẫn cháu đi chơi.”

Câu nói ấy như một tia chớp, giáng thẳng vào tim tôi.

Thượng Hải...

Thượng Hải chắc là đẹp lắm nhỉ?

Tối hôm đó, tôi dùng chiếc máy tính cũ kỹ ở trường để tìm kiếm hình ảnh về Thượng Hải.

Tôi nhìn thấy tháp Đông Phương Minh Châu, Bến Thượng Hải, tòa nhà tài chính toàn cầu, thủy cung đại dương...

Mọi thứ sạch sẽ, rực rỡ, giống như một thế giới hoàn toàn khác với ngôi làng nhỏ nơi tôi sống.

Những ước mơ đẹp đẽ ấy giống như bong bóng xà phòng dễ vỡ, nhưng lại khiến người ta không thể cưỡng lại, chỉ muốn đắm chìm trong đó.

Hôm đó, tôi vừa khóc, vừa viết vào nhật ký:

“Sẽ có một ngày, mày phải đứng trên đỉnh tháp Đông Phương Minh Châu mà ngắm cảnh. Dung Phán Phán, từ hôm nay, hãy nỗ lực học tập.”

← → Phím mũi tên để chuyển chương