Chương 7

TỰ TAY VÁ LẠI CUỘC ĐỜI

“Cô ta cũng có truyền thừa sao? Chẳng lẽ mẹ cô ta biết vá ống quần?”

Tần Ngọc Chi không giải thích.

Bà chỉ nói với tôi:

“Vé tàu đã mua xong rồi. Sáng mai sáu giờ xuất phát.”

Tôi gật đầu.

Ánh mắt Khương Vãn đảo qua giữa hai chúng tôi một vòng rồi đột nhiên bỏ chạy.

Tôi biết cô ta sẽ đi tìm Lục Nghiễn Bạch.

Quả nhiên, tối hôm đó Lục Nghiễn Bạch tới.

Anh ta đứng trước cửa nhà tôi, trên tay cầm chiếc áo bông xám.

“Nam Chi, Vãn Vãn nói sáng mai em sẽ đi.”

Tôi gấp tã cho Niếp Niếp lại.

“Ừ.”

“Anh cũng sắp được điều lên tỉnh thành. Sau này nếu có chuyện gì, em có thể tìm anh.”

Tôi bật cười.

“Tìm anh làm gì? Để anh lại giúp tôi đem con gái cho người khác à?”

Sắc mặt anh ta lập tức trắng bệch.

“Anh chỉ muốn chăm sóc cho hai mẹ con em.”

Tôi nói:

“Lục Nghiễn Bạch, nếu anh thật sự muốn chăm sóc chúng tôi, vậy thì hãy cách xa chúng tôi ra một chút.”

Anh ta đưa chiếc áo bông xám tới.

“Chiếc áo này... anh không mang đi nữa.”

Tôi không nhận.

Anh ta hạ thấp giọng.

“Chính tay em may cho anh.”

Tôi cầm lấy.

Rồi ngay trước mặt anh ta, ném thẳng vào bếp lò.

Ngọn lửa nhanh chóng liếm lên lớp vải bông cũ, mùi cháy khét lan ra trong không khí.

Lục Nghiễn Bạch bất ngờ bước lên một bước.

Tôi chắn trước bếp lò.

“Đừng giành. Đốt quần áo cũ của anh cũng không phạm pháp.”

Anh ta nhìn chiếc áo từng chút từng chút co rúm lại trong lửa, giọng nói khàn đi.

“Hứa Nam Chi, lòng em thật độc ác.”

Tôi đáp:

“Tôi học từ anh đấy.”

Sáng sớm hôm sau, tôi lên chuyến xe đi tỉnh thành.

Mẹ tôi ôm Niếp Niếp đứng bên đường.

Bà không khóc.

Chỉ nâng bàn tay nhỏ của Niếp Niếp lên vẫy về phía tôi.

“Nam Chi, cứ bước tiếp về phía trước.”

Trên cửa kính xe phủ đầy sương trắng.

Tôi dùng tay áo lau đi một khoảng nhỏ, nhìn thấy Lục Nghiễn Bạch đang đứng ở góc phố.

Anh ta không đuổi theo.

Khương Vãn đứng phía sau, nắm lấy tay áo anh ta.

Khi xe bắt đầu lăn bánh, tôi thu hồi ánh mắt.

Tôi biết.

Đây không phải là kết thúc.

Mà là khởi đầu cho việc tôi giành lại chính mình.

Tỉnh thành rộng lớn hơn huyện rất nhiều.

Khi tôi đến Xưởng Thêu Tỉnh, tấm biển trước cổng đã được mưa tuyết gột rửa đến sáng bóng.

Tần Ngọc Chi dẫn tôi vào hậu viện.

Trong dãy nhà cũ là những khung thêu và chum nhuộm màu xếp thành hàng.

Trong không khí phảng phất mùi tơ chỉ, hồ dán và gỗ cũ.

Một bà lão tóc bạc ngồi bên cửa sổ.

Nhìn thấy tôi bước vào, việc đầu tiên bà làm là nhìn đôi tay tôi.

“Là cô vá chiếc váy Bách Điểu đó sao?”

Tôi đáp:

“Chỉ vá một góc thôi.”

Bà lão cầm mẫu thêu tôi gửi tới lên.

“Đây mà gọi là chỉ vá một góc? Giấu mối chỉ, nối màu cũ với màu mới, ngay cả nửa chấm đen trong mắt con chim cũng không bị lem. Ai dạy cô?”

Tôi đáp:

“Bà ngoại tôi.”

Bàn tay bà lão khựng lại.

“Bà ngoại cô tên gì?”

“Tô Hoè.”

Mấy người thợ trong phòng đều ngẩng đầu lên.

Giọng bà lão nhẹ đi.

“Bà ấy còn sống không?”

Tôi lắc đầu.

“Mất đã gần mười năm rồi.”

Bà lão đặt mẫu thêu xuống.

“Thảo nào. Năm đó kỹ thuật vá thêu loạn châm phối màu của Tô Hoè gần như không ai học được trọn vẹn. Chúng tôi tìm hậu nhân của bà ấy suốt nhiều năm.”

Đến lúc ấy tôi mới biết.

Điều bà ngoại để lại cho tôi không chỉ là một nghề cũ.

Mà là một cánh cửa.

Nhưng cánh cửa ấy không dễ bước vào.

Ngày đầu tiên, xưởng thêu sắp xếp cho tôi ngồi ở vị trí trong cùng của khu học việc.

Một nữ học việc trẻ tên La Xảo Trân nhìn chiếc bọc hành lý cũ tôi mang theo rồi cười hỏi:

“Nghe nói chị từ quán ăn ở huyện lên đây à?”

Tôi gật đầu.

Cô ta đẩy một giỏ vải thêu bẩn đến trước chân tôi.

“Vậy chị giặt cái này trước đi. Kim thêu ở đây không phải ai muốn cầm cũng được.”

Tần Ngọc Chi nhíu mày.

“Xảo Trân, cô ấy là người được chính các bậc thầy chỉ đích danh mời tới.”

La Xảo Trân cười càng ngọt ngào hơn.

“Chị Tần, em biết chứ. Nhưng quy củ vẫn phải có. Vừa tới đã được chạm vào đồ thêu cổ, lỡ xảy ra chuyện thì ai chịu trách nhiệm?”

Những học việc khác xung quanh không lên tiếng.

Nhưng ánh mắt của họ đều đổ dồn về phía tôi.

Tôi đặt bọc hành lý xuống, bưng giỏ vải thêu lên.

Tần Ngọc Chi khẽ nói:

“Cô không cần phải nhịn cô ta.”

Tôi đáp:

“Giặt vải cũng là việc.”

La Xảo Trân tưởng tôi mềm yếu.

Hai ngày tiếp theo, cô ta đẩy hết những việc bẩn nhất, lặt vặt nhất cho tôi.

Tôi nhận hết.

Ngày thứ ba, bà lão yêu cầu tất cả học việc nộp một mẫu thực hành vá màu.

La Xảo Trân nộp một bông mẫu đơn, màu sắc rực rỡ đến nổi bật.

Đến lượt tôi, tôi nộp một mảnh cổ tay áo màu xám xanh.

Có người bật cười.

“Đơn điệu quá nhỉ.”

Nhưng bà lão lại cầm mảnh vải ấy ngắm rất lâu.

“Ai bảo cô vá chỗ này?”

Tôi đáp:

“Trong góc kho có một bộ đồ hát tuồng cũ, cổ tay áo bị sâu cắn thủng. Tôi thấy nó sắp hỏng hẳn nên vá lại trước.”

Sắc mặt La Xảo Trân lập tức thay đổi.

“Đó là đồ phế bỏ rồi. Ai cho chị tự ý động vào đồ trong kho?”

Bà lão ngẩng đầu nhìn cô ta.

“Phế bỏ? Đây là thủy tụ của một nghệ nhân phái Mai để lại từ ba mươi năm trước. Vì không ai dám vá nên mới bị bỏ trong góc.”

Cả căn phòng lập tức yên lặng.

Bà lão giơ mảnh tay áo lên dưới ánh sáng.

“Sợi chỉ cũ đã mục hết, nhưng chỉ mới lại không được lấn át. Các cô nhìn chỗ này đi. Cô ấy không vá theo hoa văn trước, mà vá phần cốt trước. Bộ đồ sống lại rồi.”

Mặt La Xảo Trân đỏ bừng.

Tôi không nhìn cô ta.

Bà lão hỏi tôi:

“Cô tên gì?”

“Hứa Nam Chi.”

“Từ hôm nay, cô theo tôi tu sửa váy Bách Điểu.”

Câu nói ấy truyền ra ngoài chưa đến nửa ngày thì Lục Nghiễn Bạch đã xuất hiện ở Xưởng Thêu Tỉnh.

← → Phím mũi tên để chuyển chương