Chương 12

TỰ TAY VÁ LẠI CUỘC ĐỜI

“Núi xuân không phải cánh cửa vừa sơn mới.”

“Phải có cảm giác ẩm ướt sau khi tuyết tan.”

Cô ấy vội vàng ghi chép lại.

Tôi mỉm cười.

“Đừng sợ sai.”

“Sai thì sửa.”

“Đừng giấu giếm, đừng hại người.”

Mặt cô ấy lập tức đỏ lên.

“Em hiểu rồi.”

Tác phẩm Núi xuân sau tuyết được thêu suốt ba tháng.

Khó nhất là phần tuyết tan dưới chân núi.

Tôi tháo ra làm lại bảy lần.

Đầu ngón tay bị sợi chỉ cọ đến chai cứng.

Mẹ tôi nhìn mà xót ruột.

“Con đúng là người cố chấp.”

“Lên tỉnh rồi mà vẫn khổ như vậy.”

Tôi cười.

“Lần này là vì chính con.”

Ngày tác phẩm được đưa đi triển lãm.

Tôi nhìn thấy Lục Nghiễn Bạch ở trước cửa phòng trưng bày.

Anh ta mặc quần áo lao động bình thường.

Trên tay cầm vé vào cửa.

Đứng ở ngoài cùng của đám đông.

Anh ta không bước tới.

Tôi cũng không đi qua.

Bên trong phòng triển lãm, có người chỉ vào bức Núi xuân sau tuyết rồi hỏi:

“Tác phẩm này của ai vậy?”

Người thuyết minh đáp:

“Của nghệ nhân Hứa Nam Chi thuộc Xưởng Thêu Tỉnh.”

“Có phải người từng phục chế váy Bách Điểu không?”

“Đúng rồi.”

“Lần này là tác phẩm sáng tác nguyên bản của cô ấy.”

Lục Nghiễn Bạch đứng ở phía xa.

Khi nghe hai chữ “nguyên bản”, anh ta cúi đầu cười khẽ.

Trong nụ cười ấy có hối hận.

Có đau đớn.

Và cũng có khoảng cách mà cuối cùng anh ta buộc phải thừa nhận.

Khi kết quả chấm giải được công bố.

Núi xuân sau tuyết giành huy chương vàng.

Viện trưởng đích thân trao giấy chứng nhận vào tay tôi.

Tiếng vỗ tay bên dưới vang dội khắp hội trường.

Mẹ tôi bế Niệm An đứng ở hàng đầu, nước mắt cứ rơi mãi.

Niệm An chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, chỉ thấy mọi người vỗ tay nên cũng vỗ tay theo.

Tôi nhìn con bé rồi bật cười.

Ngay khoảnh khắc ấy, tôi bỗng nhớ tới ngày ở sảnh bệnh viện huyện, khi Lục Nghiễn Bạch hỏi tôi có còn giận không.

Không phải giận.

Mà là từ ngày đó, tôi cuối cùng cũng bắt đầu lấy lại sức lực cho chính mình.

Sau khi đoạt giải, Xưởng Thêu Tỉnh phân cho tôi một căn nhà nhỏ.

Không lớn.

Một chiếc giường, một gian bếp nhỏ và một ô cửa sổ hướng nam.

Bệ cửa đủ đặt hai chậu hoa.

Niệm An có thể lảo đảo đi vòng quanh căn phòng ba lượt.

Ngày chuyển nhà, Tần Ngọc Chi và mấy cô học việc đến giúp.

Ngay cả bác bảo vệ cũng vác nửa bao than lên lầu.

Mẹ tôi nấu một nồi mì lớn, nhất quyết giữ mọi người ở lại ăn.

Tần Ngọc Chi ngồi trên chiếc ghế nhỏ, vừa ăn vừa nói:

“Nam Chi, xem như cô đã cắm rễ ở tỉnh thành rồi.”

Tôi nhìn cây hòe ngoài cửa sổ.

“Vẫn chưa đủ.”

Bà bật cười.

“Cô còn muốn thế nào nữa?”

Tôi đáp:

“Tôi muốn mở một lớp dạy kỹ thuật vá màu.”

“Dòng truyền thừa của bà ngoại không thể đứt ở chỗ tôi.”

Sau này khi nghe chuyện ấy, bà lão mắng tôi là tham vọng lớn.

“Bản thân vừa đứng vững được bao lâu mà đã muốn dạy người khác?”

Tôi nói:

“Vì tôi từng bò lên từ bùn lầy.”

“Tôi biết cảm giác không có ai kéo mình một tay là thế nào.”

Bà nhìn tôi rất lâu.

Cuối cùng ném cho tôi một chùm chìa khóa.

“Phòng phía tây đang bỏ trống.”

“Cứ dùng trước đi.”

“Nếu dạy hỏng học trò, tôi sẽ mắng cô.”

Lớp vá màu được mở ra.

Có sáu cô gái đến học.

Có con gái công nhân.

Có cô em họ từ nông thôn lên.

Cũng có một người phụ nữ đã ly hôn và đang nuôi con một mình.

Cô ấy đứng ở cửa, không dám bước vào.

Tôi đi tới hỏi:

“Muốn học thêu không?”

Cô ấy nhỏ giọng:

“Tay tôi vụng lắm.”

“Tay vụng cũng học được.”

“Tôi còn mang theo con.”

Tôi nhìn cô bé nhút nhát đứng phía sau cô ấy.

“Con bé có thể ngồi bên cửa sổ vẽ tranh.”

Vành mắt cô ấy lập tức đỏ lên.

Tôi không an ủi.

Chỉ đưa cho cô ấy một khung thêu.

Nhiều năm sau tôi mới hiểu.

Có những số phận không thay đổi nhờ một câu an ủi.

Mà thay đổi nhờ một chiếc khung thêu được trao tận tay.

Một ngọn đèn vẫn để sáng.

Hay một câu nói giản dị:

“Cô có thể thử xem.”

Lần cuối cùng Lục Nghiễn Bạch xuất hiện trong cuộc đời tôi là khi Niệm An lên ba tuổi.

Anh ta nhờ Mạnh Trường Lâm mang đến một chiếc hộp gỗ.

Mạnh Trường Lâm lúc ấy đã được điều sang đội huấn luyện.

Trông chững chạc hơn trước rất nhiều.

Ông ấy nói:

“Anh ấy sắp đi một nơi rất xa để hỗ trợ làm đường.”

“Trước khi đi muốn gửi thứ này cho cô.”

“Nếu cô không nhận, tôi sẽ mang về.”

Bên trong hộp gỗ là một xấp sổ tiết kiệm và một lá thư.

Tôi không đọc thư.

Chỉ nhìn sổ tiết kiệm.

Số tiền không ít.

Dòng ghi chú viết:

Dành cho Niệm An.

Tôi lấy sổ tiết kiệm ra.

“Thứ này tôi giữ lại.”

“Xem như trách nhiệm anh ta nên làm.”

“Còn lá thư thì mang về đi.”

Mạnh Trường Lâm gật đầu.

“Tôi hiểu.”

Niệm An từ trong nhà chạy ra, ôm lấy chân tôi rồi hỏi:

“Mẹ ơi, ai vậy?”

Mạnh Trường Lâm ngồi xổm xuống, mỉm cười đáp:

“Chú là một người quen cũ của mẹ cháu.”

Niệm An chớp chớp mắt.

“Chú có ăn kẹo không?”

Con bé lục trong túi áo, lấy ra một viên kẹo.

Mạnh Trường Lâm nhận lấy.

Khóe mắt ông ấy hơi đỏ.

“Cảm ơn Niệm An.”

Sau khi ông ấy rời đi, mẹ tôi hỏi:

“Con thật sự không cho con bé nhận họ nhà Lục sao?”

Tôi lắc đầu.

“Đợi sau này con bé lớn lên.”

“Nếu muốn biết sự thật, con sẽ kể cho nó nghe.”

“Còn có nhận hay không, để chính nó tự quyết định.”

“Bây giờ điều duy nhất nó cần biết là mình không lớn lên nhờ sự bố thí của bất kỳ ai.”

Mẹ tôi gật đầu.

Ngoài cửa sổ, những cô gái trong lớp vá màu đang phơi chỉ.

Từng hàng chỉ xanh, trắng, hồng nhạt đung đưa trong gió.

Như thể mùa xuân cuối cùng cũng chịu chậm rãi đáp xuống nhân gian.

Một mùa đông nữa lại đến.

Tỉnh thành phủ đầy tuyết trắng.

Niệm An đã có thể đeo cặp sách nhỏ đi mẫu giáo.

Con bé chê những bông hoa dành dành tôi thêu trên cặp quá dịu dàng.

Nhất quyết bắt tôi thêu thêm một chú thỏ béo ở góc cặp.

Tôi chiều ý con.

Niệm An đeo cặp rồi xoay vòng vòng trong nhà.

“Mẹ ơi, con có giống đứa trẻ giỏi nhất không?”

Tôi cười.

“Giống.”

Mẹ tôi đứng bên cạnh bật cười.

“Làm gì có ai tự khen mình giỏi như thế?”

Niệm An chống nạnh.

“Mẹ nói được phép tự khen mình mà.”

Tôi gật đầu.

“Đúng vậy.”

“Người khác có thể khen con.”

“Thì chính con cũng có thể khen mình.”

Hôm ấy, tôi dẫn học viên của lớp vá màu đến bảo tàng tỉnh tham quan triển lãm.

Ở khu trong cùng của phòng trưng bày.

Váy Bách Điểu, bộ hỷ bào và tác phẩm Núi xuân sau tuyết được đặt trên cùng một tuyến triển lãm.

Khi người thuyết minh giới thiệu đến tôi.

Niệm An bỗng giơ tay lên.

“Đó là mẹ cháu!”

Mọi người xung quanh đều bật cười.

Người thuyết minh cũng cười theo.

“Đúng vậy.”

“Đây là tác phẩm của nghệ nhân Hứa Nam Chi.”

Khuôn mặt Niệm An rạng rỡ đầy tự hào.

Tôi xoa đầu con bé.

Đúng lúc ấy, từ phía cửa triển lãm có người gọi tên tôi.

Tôi quay đầu lại.

Là chị Vương.

Chị ấy đã mập hơn trước một chút.

Trong tay dắt theo Tiểu Bảo.

Cậu bé năm nào giờ đã thành một thiếu niên cao lớn, gặp tôi còn hơi ngượng ngùng.

Chị Vương bước nhanh tới.

“Nam Chi, đúng là em thật.”

“Chị lên tỉnh thăm người thân, tiện ghé xem triển lãm.”

“Không ngờ lại thật sự nhìn thấy tên em ở đây.”

Chị nhìn tủ trưng bày rồi lại nhìn tôi.

“Năm đó là chị hồ đồ, hùa theo người khác nói em.”

“Bây giờ ở khu nhà cũ, ai nhắc đến em mà chẳng giơ ngón tay cái.”

“Mỗi lần mẹ em về huyện làm việc, ai cũng tranh nhau giúp đỡ.”

Tôi mỉm cười.

“Chuyện qua rồi.”

Chị Vương hạ thấp giọng.

“Dạo trước Lục Nghiễn Bạch có về huyện một lần.”

“Trông già đi nhiều lắm.”

“Mẹ anh ta còn muốn nhờ người mai mối cho anh ta.”

“Nhưng chẳng ai chịu.”

“Khương Vãn sau khi ra tù cũng rời khỏi huyện rồi.”

“Nghe nói sống không được tốt.”

Nói xong, chị ấy cẩn thận quan sát sắc mặt tôi.

Tôi không có cảm giác gì cả.

Giống như đang nghe chuyện cũ của một gia đình chẳng liên quan.

Chị Vương thở dài.

“Nếu năm đó anh ta sống tử tế với em, bây giờ không biết đã vẻ vang đến mức nào.”

Tôi mỉm cười.

“Vẻ vang của tôi không phải để anh ta hưởng ké.”

Chị Vương sững người.

Rồi lập tức gật đầu.

“Đúng, đúng.”

“Là của em.”

Niệm An kéo tay tôi.

“Mẹ ơi, con muốn xem thỏ béo.”

Trong triển lãm làm gì có thỏ béo.

Tôi ngồi xổm xuống hỏi con:

“Về nhà mẹ thêu cho con một con còn to hơn nhé?”

Con bé nghiêm túc suy nghĩ một lúc.

“Phải giỏi giống con nữa.”

Tôi bật cười.

“Được.”

Khi bước ra khỏi bảo tàng tỉnh, tuyết đang rơi.

Tôi bế Niệm An lên.

Mẹ tôi đi bên cạnh.

Những cô gái trong lớp vá màu ríu rít theo sau, vừa đi vừa bàn luận về kỹ thuật thêu.

Đèn đường phía xa lần lượt sáng lên.

Những bông tuyết dưới ánh đèn trông như những hạt muối li ti.

Tôi bỗng nhớ đến rất nhiều năm trước.

Khi ấy tôi cũng từng đi trong một trận tuyết như thế.

Lúc đó tôi từng nghĩ rằng, được ai đó cõng ra khỏi màn tuyết chính là may mắn lớn nhất đời mình.

Về sau tôi mới hiểu.

Điều quan trọng nhất trong đời người không phải là chờ ai đó đến cõng mình đi.

Mà là sau khi ngã xuống trong tuyết, vẫn có thể tự mình đứng dậy.

Phủi đi cái lạnh bám trên người.

Ôm lấy người cần ôm.

Rồi bước về phía có ánh đèn.

Niệm An tựa đầu lên vai tôi, khẽ hỏi:

“Mẹ ơi, tuyết sẽ rơi mãi sao?”

Tôi đáp:

“Không đâu.”

“Vậy khi tuyết ngừng rơi thì sao?”

Tôi nhìn con đường phía trước.

“Đến lúc tuyết ngừng rơi...”

“Thì mùa xuân cũng đã ở rất gần rồi.”

Con bé hài lòng, dụi mặt vào cổ tôi.

Tôi bế con, bước xuống những bậc thềm dài của bảo tàng tỉnh.

Sau lưng, chuyện cũ lặng lẽ rơi như tuyết.

Trước mặt, từng ngọn đèn mới lần lượt sáng lên.

Lần này, tôi không quay đầu lại.

← → Phím mũi tên để chuyển chương