Chương 11

TỰ TAY VÁ LẠI CUỘC ĐỜI

“Sau này khi con bé lớn lên, tôi không muốn con biết rằng cha ruột của mình từng dùng nó để vá víu cuộc đời cho một người phụ nữ khác.”

Cuối cùng, vành mắt Lục Nghiễn Bạch đỏ lên.

Lần này không phải vì Khương Vãn.

Anh ta khẽ nói:

“Anh sẽ bù đắp.”

Tôi lắc đầu.

“Anh không bù đắp được đâu.”

“Điều duy nhất anh có thể làm là chấp nhận việc mình đã mất con bé.”

Ngoài cửa vang lên tiếng bước chân.

Người của Tổng đội đã đến.

Người dẫn đầu họ Phương.

Vừa bước vào, ông ấy đã lên tiếng xin lỗi tôi.

“Đồng chí Hứa, đồng chí Lục Nghiễn Bạch bị nghi ngờ liên quan đến nhiều hành vi vi phạm quy định. Chúng tôi cần đưa anh ấy về để phối hợp điều tra.”

“Về chuyện đứa bé bị kinh sợ, chúng tôi cũng sẽ phối hợp với phía công an xử lý.”

Lục Nghiễn Bạch không chống cự.

Trước khi rời đi, anh ta lại nhìn về phía căn phòng bên trong.

“Nam Chi, em có thể cho anh biết... con bé vẫn gọi là Niếp Niếp sao?”

Tôi ôm lấy khung cửa, chắn tầm nhìn của anh ta.

“Con bé tên là Hứa Niệm An.”

“Niệm là tưởng nhớ bình an.”

“Không phải tưởng nhớ anh.”

Bờ vai Lục Nghiễn Bạch như sụp xuống.

Khi anh ta bị đưa đi, chị Vương đứng trong đám đông bỗng nhổ một bãi nước bọt xuống đất.

“Trước đây tôi còn bênh vực anh.”

“Đúng là tôi mù mắt.”

Nghe tin, bà Lục vội vàng chạy tới.

Bà lao ra chắn trước xe của Tổng đội rồi khóc lóc.

“Các người không được đưa con trai tôi đi.”

“Nó từng cứu người.”

“Nó là người tốt.”

Đội trưởng Phương đáp:

“Từng cứu người không có nghĩa là được phép hại người.”

Câu nói ấy như một cái tát.

Tát thẳng vào mặt tất cả những ai từng dùng công lao của Lục Nghiễn Bạch để biện hộ cho anh ta.

Bà Lục lại quay sang mắng tôi.

“Hứa Nam Chi, đồ sao chổi!”

Mẹ tôi cầm cán bột xông ra.

“Bà mắng thêm câu nữa thử xem!”

Bà Lục sợ đến mức lùi lại.

Tôi bế Niệm An bước ra ngoài.

“Bác Lục, từ hôm nay nhà họ Lục đừng bước vào cửa nhà tôi nữa.”

“Chuyện của con trai bác sẽ do cơ quan chức năng điều tra.”

“Nếu bác còn tiếp tục gây rối, tôi sẽ báo công an.”

Nhìn thấy Niệm An, giọng bà Lục bỗng mềm xuống.

“Cháu ngoan, để bà nội bế một chút.”

Tôi lùi lại một bước.

“Con bé không có người bà như bác.”

Không còn ai đứng ra nói đỡ cho bà Lục nữa.

Ngay cả chị Vương cũng chắn trước mặt tôi.

“Về đi.”

“Đừng làm đứa bé sợ.”

Cuối cùng, bà Lục bị mấy người hàng xóm dìu đi.

Tối hôm đó, mẹ tôi nấu cho tôi một bát trứng chần.

Bà nói:

“Nam Chi, con về tỉnh thành đi. Ở đây đã có mẹ.”

Tôi nhìn Niệm An đang ngủ say trên giường sưởi.

“Con muốn đưa con bé đi cùng.”

Mẹ tôi sững người một chút.

Tôi nói:

“Dù tỉnh thành có khó khăn đến đâu, con cũng muốn ở bên con bé.”

“Con bé đã từng bị cướp mất một lần rồi.”

“Con không muốn bỏ lỡ những năm tháng trưởng thành của con nữa.”

Mẹ tôi đưa tay lau khóe mắt.

“Vậy mẹ cũng đi.”

“Con cứ thêu của con, mẹ sẽ giúp con trông cháu.”

Sống mũi tôi cay cay.

Tôi mỉm cười gật đầu.

Ngày hôm sau, tôi đưa mẹ và Niệm An lên chuyến xe trở lại tỉnh thành.

Thị trấn nhỏ dần lùi xa sau ô cửa kính.

Lần này, tôi không còn ra đi một mình nữa.

Mang theo con nhỏ về Xưởng Thêu Tỉnh còn khó khăn hơn tôi tưởng.

Ban đêm Niệm An khóc, người ở phòng bên cạnh gõ tường.

Mẹ tôi không quen đường sá, có lần đi chợ suýt bị lạc trong ngõ.

Ban ngày tôi phục chế đồ thêu.

Ban đêm giặt tã cho con.

Nhiều lúc buồn ngủ đến mức mũi kim lệch đi nửa phân.

Bà lão nhìn thấy tất cả.

Nhưng không hề an ủi.

Bà chỉ chuyển khung thêu của tôi đến bên cửa sổ.

“Ánh sáng tốt hơn.”

“Ít phạm sai lầm hơn.”

Tần Ngọc Chi giúp tôi xin một giường phụ tạm thời cho người nhà.

Người bảo vệ còn vẽ cho mẹ tôi một tấm sơ đồ đường đi ra chợ.

Ngay cả cô học việc nhút nhát từng đứng ra làm chứng cho tôi cũng thỉnh thoảng nhét cho Niệm An một chiếc trống bỏi nhỏ mỗi khi con bé khóc.

Xưởng Thêu Tỉnh không vì tôi có con nhỏ mà trở thành một nơi dịu dàng.

Nhưng những khó khăn ở đây sẽ không cướp mất con gái tôi.

Và tôi đã nghiến răng vượt qua tất cả.

Nửa tháng sau, bảo tàng tỉnh gửi đến một nhiệm vụ phục chế mới.

Đó là một bộ hỷ bào thời Thanh.

Trước ngực áo có một lỗ thủng do lửa thiêu cháy.

Ban đầu nhiệm vụ được giao cho bà lão.

Nhưng bà lại đưa phiếu công việc cho tôi.

“Cô làm chính.”

Cả phòng đều kinh ngạc.

Ngay cả tôi cũng sững sờ.

Bà lão nói:

“Váy Bách Điểu cô sửa là vết rách.”

“Bộ hỷ bào này cô sửa là vết bỏng.”

“Đường kim khác nhau.”

“Dám nhận không?”

Tôi nhận lấy phiếu công việc.

“Dám.”

Bộ hỷ bào ấy cũng trở thành tác phẩm thực sự giúp tôi gây dựng tên tuổi.

Ngày triển lãm phục chế diễn ra, bảo tàng tỉnh tổ chức một buổi giới thiệu nhỏ.

Tôi bế Niệm An đứng sau cánh gà.

Mẹ tôi chỉnh lại cổ áo cho tôi.

“Đừng sợ.”

Tôi bật cười.

“Mẹ à, con không sợ.”

Dưới khán phòng có viện trưởng, các nghệ nhân của xưởng thêu, phóng viên báo chí và vài chuyên gia đến từ nơi khác.

Tôi nói không nhiều.

Chỉ giải thích cách xử lý mép cháy của vải, cách giữ lại chỉ vàng cũ và cách vá màu sao cho không lấn át vẻ đẹp nguyên bản.

Có người hỏi:

“Đồng chí Hứa, cô còn trẻ như vậy, tại sao lại nghĩ đến việc giữ lại dấu vết cháy thay vì che hoàn toàn nó đi?”

Tôi đáp:

“Đồ vật cũ từng bị tổn thương thì không thể giả vờ như chưa từng bị tổn thương.”

“Phục chế không phải là che giấu vết thương.”

“Mà là để nó mang theo vết thương ấy và tiếp tục được nhìn thấy.”

Khán phòng yên lặng trong chốc lát.

Sau đó vang lên tiếng vỗ tay.

Sau buổi giới thiệu, nữ phóng viên tìm đến tôi.

“Câu nói vừa rồi, tôi có thể đưa vào bài báo không?”

Tôi gật đầu.

Cô ấy cười.

“Thợ thêu Hứa, bây giờ chị nói chuyện khác hẳn lần đầu tôi gặp ở huyện rồi.”

Tôi hỏi:

“Khác ở điểm nào?”

Nữ phóng viên mỉm cười.

“Lúc đó chị giống như một lưỡi dao còn nằm trong vỏ.”

“Bây giờ lưỡi dao vẫn còn đó.”

“Nhưng trước tiên người khác sẽ nhìn thấy ánh sáng của nó.”

Tôi không hoàn toàn hiểu hết ý cô ấy.

Nhưng tôi biết mình đã thay đổi.

Sau khi buổi giới thiệu kết thúc, ngoài cổng xuất hiện một người quen.

Lục Nghiễn Bạch.

Anh ta gầy đi rất nhiều.

Tóc cắt ngắn.

Trên người không còn bộ đồng phục nữa.

Người bảo vệ chặn anh ta lại.

“Cô Hứa đang bận.”

Anh ta không cố xông vào.

Chỉ đưa cho người bảo vệ một bọc vải.

“Phiền anh chuyển giúp cô ấy.”

Người bảo vệ nhìn về phía tôi.

Tôi bước tới.

Lục Nghiễn Bạch nói:

“Đây là đồ của em.”

Trong bọc vải là thư báo trúng tuyển của Xưởng Thêu Tỉnh mà trước đây anh ta từng giữ lại rồi trả cho tôi.

Còn có cả túi chỉ cũ còn dư sau khi tôi may quần áo cho anh ta năm xưa.

Tôi nói:

“Chỗ chỉ đó anh vứt đi đi.”

Anh ta lắc đầu.

“Anh không nỡ.”

Tôi nhìn anh ta.

“Lục Nghiễn Bạch, thứ anh không nỡ không phải là chỉ.”

“Mà là Hứa Nam Chi của ngày trước.”

“Người đã sẵn sàng nhẫn nhịn mọi thứ vì anh.”

“Cô ấy không còn nữa rồi.”

Trong mắt anh ta ánh lên một tầng nước.

“Anh biết.”

Niệm An tỉnh giấc trong lòng mẹ tôi, khẽ khóc một tiếng.

Lục Nghiễn Bạch theo phản xạ bước lên một bước.

Rồi lại dừng lại.

“Con bé lớn rồi.”

Tôi không đáp.

Anh ta nói:

“Quyết định kỷ luật của anh đã có rồi.”

“Bị cách chức, điều khỏi tuyến đầu, toàn bộ trợ cấp bị thu hồi.”

“Chuyện của Khương Vãn vẫn đang điều tra.”

“Cô ấy đã thừa nhận chuyện lá đơn tố cáo, cũng thừa nhận năm đó từng cầu xin anh sửa hồ sơ.”

Tôi nói:

“Đó là chuyện của các người.”

Anh ta cười khổ.

“Anh chỉ muốn nói với em rằng... sau này anh sẽ không làm phiền hai mẹ con nữa.”

Tôi gật đầu.

“Hy vọng anh làm được như lời mình nói.”

Lục Nghiễn Bạch nhìn Niệm An rất lâu.

Cuối cùng đặt túi chỉ cũ xuống đất.

“Nam Chi, xin lỗi.”

Ba chữ ấy đến quá muộn.

Nhẹ như một nhúm tro rơi xuống nền tuyết.

Tôi không nói tha thứ.

Cũng không mắng anh ta thêm nữa.

Tôi bế Niệm An lên rồi quay người bước vào bảo tàng tỉnh.

Phía sau vang lên giọng người bảo vệ:

“Đồng chí, mang đồ về đi.”

“Cô Hứa không nhận đâu.”

Bản án dành cho Khương Vãn được tuyên vào mùa xuân năm sau.

Vì các tội danh cướp đoạt trẻ sơ sinh, vu khống người khác và gây rối hiện trường phục chế, cô ta bị kết án.

Xét đến việc chồng đã qua đời cùng tình trạng tinh thần không ổn định, mức án không quá nặng.

Nhưng cũng đủ để biến người từng được cả huyện thương cảm thành đề tài bàn tán khắp đầu đường cuối ngõ.

Lục Nghiễn Bạch từng gửi cho tôi một lá thư.

Tôi không mở ra xem.

Mẹ hỏi:

“Không đọc sao?”

Tôi bỏ lá thư vào bếp lò.

“Không đọc.”

Ngọn lửa cuốn lấy góc thư.

Chẳng mấy chốc đã thiêu rụi ba chữ “Lục Nghiễn Bạch”.

Mẹ tôi khẽ thở dài.

“Con thật sự buông xuống rồi.”

Tôi đang thử đôi giày mới cho Niệm An.

“Không phải buông xuống.”

“Mà là không muốn đưa tay chạm vào tro bụi nữa.”

Niệm An giờ đã biết vịn mép giường để đứng.

Con bé nắm lấy ngón tay tôi, ê a bi bô.

Mẹ tôi cười đến không khép miệng lại được.

“Niệm An nhà mình sau này chắc chắn cũng khéo tay lắm.”

Tôi bóp nhẹ bàn chân nhỏ của con.

“Nếu con muốn khéo tay thì cứ khéo tay.”

“Không muốn cũng chẳng sao.”

Mùa xuân trôi qua.

Xưởng Thêu Tỉnh nhận được một nhiệm vụ còn lớn hơn trước.

Tỉnh chuẩn bị tổ chức triển lãm thủ công truyền thống.

Xưởng thêu phải mang đến một tác phẩm mới.

Không phải phục chế.

Mà là sáng tác.

Bà lão giao đề tài cho tôi.

“Cô làm thợ thêu chính.”

Tôi sững người.

“Con chưa đủ thâm niên.”

Bà đáp:

“Thâm niên là để cho người khác nhìn.”

“Còn tác phẩm là để cho đôi mắt đánh giá.”

Tần Ngọc Chi hỏi tôi muốn thêu gì.

Tôi suy nghĩ rất lâu.

Cuối cùng quyết định một chủ đề.

Núi xuân sau tuyết.

Không phải Bách Điểu.

Không phải hỷ bào.

Cũng không phải bất kỳ cổ vật nào.

Đó là tác phẩm lớn đầu tiên thực sự thuộc về riêng tôi.

Ngày phác thảo, tôi đặt Niệm An trong chiếc nôi bên cạnh.

Con bé cầm chiếc trống bỏi, cười đến lộ ra hai chiếc răng nhỏ.

La Xảo Trân đã rời khỏi xưởng thêu từ lâu.

Cô học việc nhút nhát năm nào giờ thay thế vị trí phối chỉ của cô ta.

Làm việc cẩn thận đến mức gần như vụng về.

Cô ấy đưa bảng màu cho tôi, nhỏ giọng hỏi:

“Thợ thêu Hứa, màu xanh này có được không ạ?”

Tôi nhìn qua một lượt.

“Vẫn còn sáng quá.”

← → Phím mũi tên để chuyển chương